
Hai con số, hai phép đo khác nhau
Thông số của một cây kìm ép có hai con số rất dễ bị gộp làm một:
- Dải ép, tính bằng mm² — nói về lõi dẫn của sợi cáp và lực cần để ép nó. Đây là con số quyết định máy có ép nổi hay không.
- Độ mở hàm, tính bằng mm — nói về khoảng hở hình học giữa hai nửa hàm. Đây là con số quyết định cos có lọt vào hay không.
Cách nghĩ cần bác lại là cách nghĩ gộp chúng: “kìm ép được 300mm² thì cái cos 300mm² đương nhiên vào vừa hàm”. Không có gì bảo đảm điều đó, vì thứ phải lọt qua hàm không phải cái lõi mà là thân đầu cos, cộng với mọi thứ đã lồng sẵn vào cáp ở điểm ép. Đó là lý do catalog mô tả con số này bằng những câu rất cụ thể về thao tác: “đủ để đưa cos cỡ lớn vào khuôn dễ dàng trước khi ép”, hoặc “giúp luồn cos vào khuôn dễ hơn khi làm việc trong tủ điện chật hẹp”.
Số công bố, và chỗ hai cột không đi cùng nhau
| Model | Độ mở hàm | Dải ép | Kích thước thân |
|---|---|---|---|
| OPT TP-240 | 25mm | Ép lục giác — theo vhcorp.com.vn | Dài 582mm |
| OPT TP-300 | 30mm | Ép lục giác — theo vhcorp.com.vn | Dài 610mm |
| OPT TP-6 | 36mm | 16 đến 300mm², ép 4 điểm DIN, 6 tấn | Dài 600mm, 5kg |
| EZS-400 | ~38mm | 10 đến 400mm², lục giác, 120kN | Dùng 2 pin 18V/5,0Ah |
| IZUMI S7G-510M | 42mm | Khuôn shell-type 12 tấn, lực ra 106kN | 453×284×84mm, 6,6kg — hành trình ty ép cũng 42mm |
| OPT TP-900H (đầu rời) | Miệng ngàm chữ C rộng 50mm | Tới 630mm² — xem điều kiện adapter | Dài 370mm, 7,3kg |
Hàng ba và hàng bốn là hàng làm nên trang này: 36mm cho dải tới 300mm², 38mm cho dải tới 400mm². Nếu độ mở hàm tỉ lệ với dải thì con số thứ hai phải lớn hơn hẳn. Nó không. Lý do nằm ở chỗ kiểu ép quyết định hình dạng khuôn, mà khuôn mới là thứ chiếm chỗ trong lòng hàm — TP-6 ép 4 điểm theo DIN còn EZS-400 ép lục giác, hai hệ khuôn khác nhau. Phần hai hệ ép đó nằm ở ép lõm và ép lục giác khác gì nhau.
Hai yêu cầu kéo nhau về hai phía
Cặp TP-240 và TP-300 cho thấy một đánh đổi mà không tra bảng thì không thấy: mở hàm rộng thêm 5mm thì thân dài thêm 28mm. Trong một tủ điện hẹp, hai thứ này đòi ngược nhau:
- Hàm rộng để luồn cos vào được — nhất là khi cáp đã cố định trong máng và không xoay trở được, tình huống bàn ở ép cos khi cáp đã cố định.
- Thân ngắn để xoay trở được trong khoang. Cùng lô-gic đó, một đầu rời miệng ngàm 42mm dài 250mm được mô tả là linh hoạt hơn trong khoang tủ hẹp so với bản ngàm 50mm dài 370mm — đổi lại dải tiết diện tối đa thấp hơn.
Một lối thoát thứ ba mà catalog hay nêu: đầu ép xoay 360 độ, để khỏi phải xoay cả thân kìm trong khoang. Phần đó có trang riêng ở đầu ép tự xoay 360 độ dùng khi nào.
Đo gì trước khi chốt model — bảng quyết định
| Tại chỗ làm nhìn thấy | Hướng đi |
|---|---|
| Cos trần, cáp rời, thao tác trên bàn | Độ mở hàm hầu như không thành vấn đề — chọn theo dải và lực |
| Cos đã lồng ống co nhiệt hoặc phụ kiện | Đo chỗ to nhất của cụm đó, đối chiếu với độ mở hàm — không đối chiếu bằng mm² |
| Khoang tủ hẹp, không rút cáp ra được | Cần cả hàm rộng lẫn thân ngắn — hai con số phải xem cùng lúc |
| Ép cả cos nhỏ lẫn cos rất lớn trong cùng công trình | Kiểm thêm điều kiện khuôn và adapter, xem adapter miệng ngàm |
| Tài liệu không ghi độ mở hàm | Hỏi lại trước khi đặt; đây là con số nhiều nguồn bỏ qua mà lại quyết định thao tác |
| Cos vào được hàm nhưng khuôn kẹp lệch | Đây là chuyện khuôn, không phải độ mở — xem khuôn lắp không khớp |
Với kìm cắt thì con số tương ứng chính là đường kính cắt tối đa, và nó đã có cách đối chiếu riêng ở chọn kìm, máy cắt cáp theo tiết diện. Dải ép theo tiết diện thì tra ở chọn kìm ép cos theo tiết diện.
Câu hỏi thường gặp
Độ mở hàm là gì trên kìm ép cos?+
Là khoảng hở lớn nhất giữa hai nửa hàm khi mở hết, tính bằng mm. Catalog có khi ghi là nibs opening, có khi ghi là miệng ngàm chữ C rộng bao nhiêu. Đây là khoảng trống để đưa đầu cos đã lồng vào cáp lọt vào giữa khuôn trước khi ép, nên nó nói về việc đưa vào được hay không, chứ không nói về việc ép đủ lực hay không.
Độ mở hàm lớn thì ép được tiết diện lớn hơn phải không?+
Không theo tỉ lệ. OPT TP-6 có độ mở hàm 36mm với dải ép 16 đến 300mm²; trong khi EZS-400 có độ mở hàm khoảng 38mm lại phủ dải 10 đến 400mm². Chênh 2mm về độ mở mà chênh 100mm² về dải. Lý do là hai con số đo hai thứ khác nhau: dải tiết diện nói về lõi dẫn và lực ép, còn độ mở hàm nói về kích thước hình học của chỗ đưa cos vào.
Vậy khi nào độ mở hàm trở thành vấn đề?+
Khi làm trong chỗ chật hoặc khi đầu cos đã có thêm thứ gì đó lồng vào. Catalog nói thẳng điều này ở cặp TP-240 và TP-300 cùng hãng: TP-300 có độ mở hàm 30mm, lớn hơn TP-240 mở 25mm, và mô tả ghi rằng chênh lệch đó giúp luồn cos vào khuôn dễ hơn khi làm việc trong tủ điện chật hẹp. Năm milimet là khoảng cách đủ để đổi kết quả của một buổi thi công.
Độ mở hàm có liên quan gì tới chiều dài thân kìm không?+
Có, và thường đi cùng chiều. Vẫn ở cặp trên, TP-240 dài 582mm còn TP-300 dài 610mm — mở hàm rộng hơn thì thân cũng dài hơn 28mm. Với tủ điện hẹp thì đây là hai yêu cầu kéo nhau về hai phía: cần hàm mở rộng để luồn cos, lại cần thân ngắn để xoay trở được trong khoang.
Đầu ép rời thì con số này ghi thế nào?+
Thường ghi là miệng ngàm chữ C rộng bao nhiêu. Trong danh mục, OPT TP-900H có miệng ngàm chữ C rộng 50mm, 7,3kg, dài 370mm, mô tả ghi là đủ để đưa cos tiết diện lớn vào giữa khuôn; một đầu khác cùng nhóm có miệng ngàm 42mm, 5,3kg, dài 250mm và được mô tả là thao tác linh hoạt hơn trong khoang tủ hẹp nhưng dải tiết diện tối đa thấp hơn.
Trước khi mua thì đo cái gì?+
Đo thứ to nhất sẽ phải lọt qua hàm, không phải tiết diện cáp. Cụ thể là đường kính ngoài của thân đầu cos ở chỗ to nhất, cộng thêm mọi thứ đã lồng sẵn vào cáp tại điểm đó. Số đó đối chiếu với độ mở hàm; còn số mm² thì đối chiếu với dải ép. Hai phép đối chiếu riêng, cả hai đều phải đạt.